52 lines
8.7 KiB
HTML
52 lines
8.7 KiB
HTML
<blockquote><b>An Nam</b> (<a href="__missing__">Chữ Nho</a>: 安南) là một <a href="__missing__">quốc danh Việt Nam</a> cũ, thông dụng trong giai đoạn 679 - 1945.</blockquote>
|
||
<h2>Lịch sử</h2>
|
||
<p>Theo cổ sử, địa danh <i>An Nam</i> xuất hiện năm 679 với việc triều Đường Cao Tông đổi <i>Giao Châu tổng quản phủ</i> (từ 622) thành <i>An Nam đô hộ phủ</i> (安南都護府). Về mặt pháp lý, địa danh này tương ứng các cơ quan An Bắc (nay thuộc Bắc Bộ <a href="__missing__">CHND Trung Hoa</a>), An Đông (nay thuộc <a href="__missing__">bán đảo Cao Ly</a>), An Tây (nay thuộc Tây Bộ <a href="__missing__">CHND Trung Hoa</a>).
|
||
</p>
|
||
<p>Kể từ đó đến cả sau khi giành tự chủ, <i>An Nam</i> là cách gọi chính thức trong giao thiệp giữa triều đình <a href="__missing__">Việt Nam</a> với triều đình <a href="__missing__">Trung Hoa</a>, trong khi người <a href="__missing__">Cao Ly</a>, <a href="__missing__">Nhật Bản</a> và muộn hơn là người <a href="__missing__">Âu châu</a> thường gọi <i>Giao Chỉ</i>. Trong các văn kiện từ đầu thế kỉ XX về trước, người <a href="__missing__">Việt Nam</a> thường xưng <i>An Nam quốc</i> (安南國) hoặc <i>Nam quốc</i> khi đề cập bản xứ. Ban đầu, triều đình <a href="__missing__">Trung Hoa</a> chấp thuận danh xưng <i>An Nam quốc</i> nhưng vẫn gọi phiếm <i>Nam bang</i> hoặc <i>Giao Chỉ quốc</i>, từ <a href="__missing__">triều Mạc</a> vì viện cớ <a href="__missing__">Mạc Thái Tổ</a> tiếm vị trái lễ nghĩa nên hạ xuống <i>An Nam đô thống sứ ti</i> (安南都統使司).
|
||
</p>
|
||
<p>Trong khoảng một ngàn năm tự chủ, mặc dù đa số triều đại đều chọn <i>Đại Việt</i> làm quốc danh chính thức, nhưng lối gọi này không được phần đông hưởng ứng nên thường tồn tại trong các văn kiện pháp lý và có tính nội bộ. Mãi tới khi <a href="__missing__">triều Thanh</a> suy vi, <a href="__missing__">hoàng đế</a><a href="__missing__">Nguyễn Thánh Tổ</a> mới ban đạo dụ nhất quán gọi <i>Đại Nam quốc</i>, tuy nhiên danh xưng <i>An Nam</i> vẫn không dứt.
|
||
</p>
|
||
<h3>Bắc thuộc</h3>
|
||
<p><a href="__missing__">Thời Bắc thuộc</a> (Việt Nam bị <a href="__missing__">Trung Quốc</a> đô hộ), <a href="__missing__">nhà Đường</a> ở Trung Quốc đã đặt Việt Nam (tương ứng với khu vực <a href="__missing__">miền Bắc Việt Nam</a> ngày nay) là <b><a href="__missing__">An Nam đô hộ phủ</a></b> (<a href="__missing__">679</a>-<a href="__missing__">757</a> và <a href="__missing__">766</a>-<a href="__missing__">866</a>). Thời kỳ 757-766, Việt Nam mang tên <a href="__missing__">Trấn Nam đô hộ phủ</a>. Năm 866, thăng An Nam đô hộ làm <a href="__missing__">Tĩnh Hải quân tiết độ</a>.
|
||
</p>
|
||
<p>Sau khi giành được độc lập, các triều vua Việt Nam thường phải nhận thụ phong của Trung Quốc, danh hiệu <b><a href="__missing__">An Nam quốc vương</a></b> (kể từ năm <a href="__missing__">1164</a> hoặc <a href="__missing__">1174</a>).
|
||
</p>
|
||
<p>Từ đó người Trung Quốc thường gọi nước Việt Nam là An Nam, bất kể quốc hiệu là gì. Chẳng hạn, Cao Hùng Trưng (đời <a href="__missing__">nhà Minh</a>) đã viết cuốn <i>An Nam chí (nguyên)</i> về đất nước <a href="__missing__">Đại Việt</a>.
|
||
</p>
|
||
<p>Ngay cuốn sách in đầu tiên của một người Việt lưu vong ở Trung Hoa bằng chữ Hán năm 1335 cũng có nhan đề là <i><a href="__missing__">An Nam chí lược</a></i> (安南志略), do <a href="__missing__">Lê Tắc</a> (黎崱) viết.
|
||
</p>
|
||
<p>Từ đó xuất hiện các cách gọi "người An Nam", "tiếng An Nam".
|
||
</p>
|
||
<h3>Tự chủ</h3>
|
||
<p>Tên gọi An Nam do <a href="__missing__">người Trung Quốc</a> sử dụng dần dần được người <a href="__missing__">châu Âu</a> gọi theo. Chẳng hạn đã xuất hiện:
|
||
</p>
|
||
<ul><li><i><a href="__missing__">Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum</a></i> (Từ điển (tiếng) An Nam - <a href="__missing__">Bồ Đào Nha</a> - <a href="__missing__">Latinh</a>) của <a href="__missing__">Alexandre de Rhodes</a>, năm <a href="__missing__">1651</a></li>
|
||
<li><i><a href="__missing__">Dictionarium Anamitico-Latinum</a></i> (Từ điển An Nam - Latinh) của <a href="__missing__">Pigneau de Béhaine</a> (Bá Đa Lộc), soạn năm <a href="__missing__">1773</a> và được <a href="__missing__">Jean-Louis Taberd</a> biên tập lại và xuất bản năm <a href="__missing__">1838</a></li>
|
||
<li><i><a href="__missing__">Dictionnaire annamite - français</a></i> (Từ điển An Nam - <a href="__missing__">Pháp</a>) của <a href="__missing__">J. F. M. Génibrel</a>, năm <a href="__missing__">1898</a></li>
|
||
</ul>
|
||
<p>Nên nhắc lại là trong những tác phẩm do <a href="__missing__">Alexandre de Rhodes</a> viết nước "Annam" gồm có hai vùng "<a href="__missing__">Tunquin</a>" (<a href="__missing__">Đàng Ngoài</a>) và "<a href="__missing__">Cochinchine</a>" (<a href="__missing__">Đàng Trong</a>). "Cochinchine" lúc ấy, chỉ là miền Trung bây giờ: lúc sách <i>La glorieuse mort d'André catechiste de la Cochinchine</i> được in ra ở <a href="__missing__">Paris</a> vào năm 1653, thì cuộc <a href="__missing__">Nam tiến</a> của <a href="__missing__">Đại Việt</a> chỉ mới vào đến <a href="__missing__">Nha Trang</a>.
|
||
</p>
|
||
<p>Trong lịch sử cận đại, "Annam" được sử dụng trong <a href="__missing__">tiếng Pháp</a> để chỉ phần đất Miền Trung <a href="__missing__">Việt Nam</a> (hay <a href="__missing__">Trung Kỳ</a>) do triều đình Huế của <a href="__missing__">nhà Nguyễn</a> cai trị dưới sự bảo hộ của <a href="__missing__">Pháp</a>. Ngày nay, <a href="__missing__">người Việt</a> thường hiểu từ "Annam" theo một nghĩa tiêu cực, mang hàm ý miệt thị dân tộc và vì vậy không thích sử dụng nó.
|
||
</p>
|
||
<h3>Pháp thuộc</h3>
|
||
<p>Thời kỳ Pháp thuộc (1887-1945), Việt Nam bị chia thành ba miền Bắc Kỳ (<i>Tonkin</i>), Trung Kỳ (<i>Annam</i>) và Nam Kỳ (<i>Cochinchine</i>) với ba chế độ quản lý khác nhau.
|
||
</p>
|
||
<p>Annam là vùng đất do triều đình nhà Nguyễn cai quản dưới sự bảo hộ của Pháp. Khu vực hành chính có diện tích 150.200 km² nằm ở miền trung Việt Nam với thủ phủ là Huế. Trong phạm vi lãnh thổ của Annam còn có các đô thị lớn khác như Đà Nẵng, <a href="__missing__">Quy Nhơn</a>, <a href="__missing__">Quảng Trị</a>, <a href="__missing__">Vinh</a>. Về mặt hình thức Annam là một quốc gia nằm trong <a href="__missing__">Liên Hiệp Pháp</a>, có bộ máy chính quyền đứng đầu bởi vua Nguyễn, có <a href="__missing__">quốc kỳ</a>, <a href="__missing__">quốc ca</a>. Tuy nhiên về thực chất toàn bộ bộ máy chính quyền tại đây đều bị một quan chức thuộc địa của Pháp - Khâm sứ Trung kỳ (<i>Résident Supérieur d'Annam</i>) giám sát và chi phối. Năm 1945, với việc vua <a href="__missing__">Bảo Đại</a> thành lập <a href="__missing__">Đế quốc Việt Nam</a>, Annam với tư cách là một vùng lãnh thổ hành chính về mặt pháp lý chấm dứt tồn tại.
|
||
</p>
|
||
<h2>Tham khảo</h2>
|
||
<ul><li><a href="__missing__">Quốc danh Việt Nam</a></li>
|
||
<li><a href="__missing__">Hán tự văn hóa quyển</a></li>
|
||
</ul>
|
||
<h2>Liên kết</h2>
|
||
<h3>Tài liệu</h3>
|
||
<ul><li><a href="__missing__">Trần Quang Đức</a>, <i>Áo xiêm chưa đổi hết, sách vở còn nguyên sao ?</i>, <a href="__missing__">Hà Nội</a>, 2016.</li>
|
||
<li><a href="__missing__">Trần Quang Đức</a>, <i>Hán - Việt</i>, <a href="__missing__">Hà Nội</a>, 2016.</li>
|
||
<li><a href="__missing__">Trần Quang Đức</a>, <i>Hán nô ?</i>, <a href="__missing__">Hà Nội</a>, 2016.</li>
|
||
<li><a href="__missing__">Lê Vinh Huy</a>, <i><a href="__missing__">Sự giãn nở của lịch sử An Nam</a></i>, <a href="__missing__">Biên Hòa</a>, 2017.</li>
|
||
<li><i>Dictionaire annamite - français</i> (Từ điển An Nam - Pháp) của J. F. M. Génibrel, <a href="__missing__">1898</a></li>
|
||
</ul>
|
||
<h3>Tư liệu</h3>
|
||
<ul><li><a href="__missing__">Nguồn gốc quốc danh An Nam</a><a href="__missing__">Lưu trữ</a> ngày 13 tháng 4 năm 2021 tại <a href="__missing__">Wayback Machine</a></li>
|
||
<li><a href="__missing__"><i>Đế quốc An Nam và người dân An Nam</i> - Bức tranh đa diện</a></li>
|
||
</ul>
|