Thăng Long

Tập tin:Samuel_Baron_-_The_City_of_CHA-CHO,_the_Metropolis_of_TONQUEEN.jpg Cảnh Thăng Long-Kẻ Chợ những năm 1690 do Samuel Baron miêu tả sau chuyến đi đến Đàng Ngoài của ông.

Thăng Long (chữ Hán: tên cũ 昇龍, tên mới 昇隆) là tên gọi cũ của thành phố Hà Nội. Đây là kinh đô của nước Đại Việt dưới các Triều Đại phong kiến như nhà Lý, nhà Trần, nhà Lê Sơ, nhà Mạc, nhà Lê Trung Hưng (1010 - 1788). Trong dân dã thì địa danh tên Nôm Kẻ Chợ được dùng phổ biến nên thư tịch Tây phương về Hà Nội trước thế kỷ 19 hay dùng Cachao hay Kecho.

Lịch sử

Năm 1009, tương truyền khi vua Lý Công Uẩn dời kinh đô Hoa Lư đến đất Đại La thì thấy rồng bay lên nên gọi tên kinh đô mới là Thăng Long, hay "rồng bay lên" theo nghĩa Hán Việt. Ngày nay tên Thăng Long còn dùng trong văn chương, trong những cụm từ như "Thăng Long ngàn năm văn vật"... Năm 2010 là kỷ niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.

Năm 1243, nhà Trần tôn tạo sửa đổi và gọi Thăng Long là Long Phượng. Cuối thời Trần, Hồ Quý Ly cho đặt tên là Đông Đô.

Năm 1428, Lê Lợi đặt kinh đô tại Thăng Long và đổi tên là Đông Kinh, vì có kinh đô thứ 2 là Tây Kinh tại Thanh Hóa. Vào khoảng thế kỷ 16, khi Đông Kinh trở thành một đô thị sầm uất, có cả người Châu Âu đến buôn bán, thì trong dân gian bắt đầu gọi Đông Kinh là Kẻ Chợ. Theo 1 người đã đến kinh đô Thăng Long là ông William Dampier người Anh thì tại đây có tới 20.000 nóc nhà, thường thấp, tường trát bùn và mái lợp rơm. Dù vậy cũng có một số nhà xây bằng gạch và lợp ngói.[1] Hoàng cung được xây dựng nguy nga hơn dù cũng làm bằng gỗ.[2]

Năm 1803, nhà Nguyễn cho rằng thành đắp thời Tây Sơn đã bị hư hại nhiều, nên cho phá dỡ các đoạn tường cũ, trên nền cũ xây tòa thành mới. Thành mới xây theo kiểu Vauban của phương Tây, đến năm 1805 thì hoàn thành. Đồng thời vua Gia Long đổi tên chữ Hán của Thăng Long 昇龍, với nghĩa là "rồng bay lên" thành ra từ đồng âm Thăng Long 昇隆, nhưng mang nghĩa là "thịnh vượng"[3] khác nghĩa với thời các triều đại trước, vì cho rằng Thăng Long lúc đó không còn là kinh đô nơi vua ở nên không thể dùng biểu tượng rồng, linh vật tượng trưng cho hoàng quyền. Gia Long đổi phủ Phụng Thiên thành phủ Hoài Đức. Thăng Long tồn tại cho đến thời vua Minh Mạng khi bãi bỏ Bắc Thành tổng trấn và thành lập tỉnh Hà Nội, năm 1831 niên hiệu Minh Mạng thứ 12.[4]

Năm 1835, vì cho rằng thành Hà Nội cao hơn kinh thành Huế là không đúng lễ chế, Minh Mạng cho xén bớt 1 thước 8 tấc, thành Hà Nội chỉ còn cao chừng 5 m.

Năm 1848, vua Tự Đức cho phá dỡ các cung điện thời nhà Hậu Lê còn lại trong thành, những đồ chạm khắc mỹ thuật bằng gỗ, đá đều đưa về Huế để trang trí các cung điện trong đó, chỉ còn sót lại rồng đá ở điện Kính Thiên...[5]

Từ tháng 12 năm 2002 đến nay, trên khu vực thuộc Hoàng thành Thăng Long xưa (khu vực giữa các phố Hoàng Diệu, Hoàng Văn Thụ, Độc Lập, Bắc Sơn ở Hà Nội), các nhà khảo cổ học đã tiến hành khai quật trên một diện tích khoảng hơn 19 nghìn m², phát lộ một phức hệ di tích - di vật rất phong phú, đa dạng từ La Thành - Đại La (thế kỉ 7-9) đến thành Thăng Long (thế kỉ 11-18) và thành Hà Nội (thế kỉ 19).

Tập tin:ThangLong-ConDuongGomSuvenSongHong.JPG Con đường gốm sứ ven sông Hồng kỷ niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội .

Đơn vị hành chính

Tập tin:Bản_đồ_kinh_thành_Thăng_Long,_theo_Hồng_Đức_bản_đồ_sách_洪德版圖冊_(1490).jpg Bản đồ Thăng Long thời vua Lê Thánh Tông , niên hiệu Hồng Đức (1490) và phiên bản có chú thích chữ Quốc ngữ .

Thăng Long bao gồm Hoàng thành Thăng Long và một phủ kiêm lý, là phủ Phụng Thiên, phần thị thành kề cận kinh thành (phủ Phụng Thiên mới là phần gốc lõi của Kẻ Chợ). Đứng đầu phủ Phụng Thiên là viên quan Phủ doãn, gọi là Phủ doãn phủ Phụng Thiên. Phủ Phụng Thiên (đến thời nhà Nguyễn thì đổi thành phủ Hoài Đức) vào cuối thời nhà Hậu Lê tới đầu thời nhà Nguyễn gồm 2 huyện (tổng cộng 13 tổng, 239 phường, thôn, trại (đơn vị cấp làng xã)):

Xem thêm

Tham khảo

  1. William Dampier: Một chuyến Du hành đến Đàng Ngoài 1688 Nhà Xuất bản Thế giới, tr. 64.
  2. William Dampier: Một chuyến Du hành đến Đàng Ngoài 1688 Nhà Xuất bản Thế giới, tr. 66.
  3. Đại Việt địa dư toàn biên của Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, địa chí loại quyển 5, Đại Nam phương dư chính biên, tỉnh Hà Nội, trang 363.
  4. Đại Việt địa dư toàn biên của Nguyễn Văn Siêu, trang 364.
  5. "Thành cổ Hà Nội - những dấu ấn lịch sử". {{Chú thích web}}: |ngày lưu trữ= cần |url lưu trữ= (trợ giúp)
  6. Cuốn "Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ 19", trang 95-98.

Liên kết ngoài